Thứ Bảy, 31 tháng 12, 2011

Không có núi


Rating:★★★
Category:Other
TT.1- 16 tuổi, lần đầu tiên Uy ra khỏi nhà lâu như vậy. Cha ngó ra sông:


- Đi chán chưa?

- Không có núi nên về.

- Ngựa non háu đá!

Không chút ngạc nhiên về thái độ lạnh lùng của cha nhưng Uy thấy nhoi nhói trong tim.

Cô Hai tất tả chạy ra chợ, cầm về cho Uy mấy gói dầu gội đầu.

- Tắm rửa cho thơm chứ mày tính để cái mình thúi hoắc đó hả? Đi một tháng học được gì không? Đi xa dữ hả?

Nghe cô Hai nói bằng giọng mũi như sắp khóc, Uy cũng mủi lòng:

- Không có núi nên về.

Nói xong, nó muốn sà vào lòng cô Hai khóc nức nở nhưng cô Hai trở lại giọng chói lói như xưa:

- Nói khùng gì vậy. Tới tuổi trổ mã, thằng nào cũng có lý do để đi khỏi nhà. Không làm giang hồ, đại ca gì được đâu con.

Nạt nộ vậy, buổi chiều cô Hai tất tả chạy qua nhà, dòm dòm cha Uy:

- Thằng nhỏ đi cả tháng trời không tìm là tệ đó. Người ta đồn ỏm lên chắc không phải con. Máu người có phải máu cá đâu mà lạnh tanh.

- Hồi tuổi nó tui cũng đi rồi về. Cô không phải đàn ông không hiểu đâu.

Uy không nghe được câu trả lời của cha vì tai nó đặc nghẹt câu nói “chắc không phải con”. Uy cầm phảng ra vung tay mạnh. Năn, sậy nằm rạp. Mấy bông sậy thoát khỏi thân cây đã sinh ra nó bay tứ tung trong gió.

Bữa sau cô Hai đem qua ơ cá chốt kho.

- Cha đi ăn đám rồi.

- Cho bây.

- Sao biết con ưa?

Cô Hai gõ đầu nó, lớp da mặt như muốn nổi vảy lên:

- Cô Hai mày mà hổng lẽ hổng biết mày với thằng cha mày ý thích y chang. Đi nữa coi chừng nó bẻ giò.

2 Uy cứ lẩm bẩm hoài câu nói đó. Lẩm bẩm cả đến năm 18 tuổi khi Uy lần thứ hai rời nhà. Đi hơn lần trước ba ngày thì về, rồi đứng xớ rớ ở cửa với nỗi lo lắng bâng quơ “không biết cha bẻ giò nào”. Nhá nhem tối cha Uy mới về, không nói gì mà bỏ qua nhà Sáu Tèo nhậu xỉn quắc cần câu hai ngày sau mới tỉnh, mở mắt ra, câu đầu tiên hỏi “sao về?”.

Uy trả lời bằng câu nói cũ mèm:

- Không có núi.

Lần này đến lượt đám cỏ bị phảng của cha Uy cho nằm rạp, đám còn lại cũng nín thở, thoi thóp. Đám sậy non bị đứt đầu chưa kịp ứa ra mùi hăng hăng đã bị lớp khác đè chồng lên.

Trước khi đi lần thứ ba, Uy đến chào cô Hai.

- Có nói với nó là đi không?

- Cha có muốn biết không?

Câu hỏi để lại chấp chới bay như bông sậy khô không gì níu được. Vậy nên Uy cứ đi mải miết như lòng đã định. Nghề gì người ta mướn thì làm, miễn có cái ăn mà tìm núi. Một người, hai người rồi tới mấy chục người đều cười khậc khậc khi Uy hỏi đường về núi. Có người ái ngại vẻ mặt thật thà của Uy mà tình thiệt hỏi:

- Cậu tìm núi làm gì ở xứ sông hồ này? Hay cậu tìm đảo? Tìm cồn?

Đêm, nằm bồng bềnh trên ghe Uy vẽ núi qua tâm tưởng và cười lặng lẽ khi nhớ lại câu hỏi đó.

Nhìn khói bốc lên nghi ngút từ nồi cơm mới chín, Uy nhớ cái bếp hiếm khi đỏ lửa ở nhà, nghe tiếng cá đụng vây dưới thân ghe mà nhớ cái nhăn mặt của cha khi gió đưa bông sậy rụng.

Cha gửi lời nhắn qua khắp các ghe hàng bông. Không gì chuyển tin tức nhanh hơn phương tiện này ở nơi nước nổi gần mây trôi. Uy nhận được lời nhắn lần thứ nhất giữa mùa giao nhau. Uy nhận được lời nhắn thứ hai khi gặp ông già vỗ vai Uy lúc nó ngồi thừ người. Lời nhắn thứ ba đến khi Uy quyết định chuyển sang hướng tây tìm núi. Ông già ngó Uy: “Máu mủ rồi cũng tìm nhau”.

“Sao cha không tìm con về? Có nơi nào ngăn được cha đi?”. Cái ý nghĩ đã xuất hiện khi Uy còn nhỏ cứ tái hiện trở lại.

Ông già bập điếu thuốc trên tay: “Có người gọi là cha để oán trách cũng là diễm phúc của đời người”. Trời lạnh hay thuốc lá đến giờ hút mới thấy cay mà môi ông già run run.

Khi mấy bông sậy non ướt nhẹp màu trắng xanh vì sương sớm, nỗi nhớ cứ nhức buốt trong đầu. Hướng tây nào đã đưa Uy trở về đây hay Uy muốn quay về một lần nữa nhìn bông sậy run rẩy một nỗi sợ hãi mông lung.

3 Căn nhà chơ vơ lá thư để lại lạnh vắng bàn tay người.

“Cha đã tìm không có đứa con gái nào tên Núi mà con yêu. Cha đã hỏi tất cả về Núi mà không ai biết. Mẹ con chết khi sinh ra con nên mỗi lần nhìn con cha lại hận mình không làm gì được. Cha đã từng ao ước có thể đánh đổi con để có được mẹ. Cha thấy mình là người chồng tệ bạc không cứu được vợ, người cha bất nhơn khi cứ muốn con mình chết. Con đi rồi cha mới biết rằng nhà mình từng ấm áp biết bao. Hận con mình đã là một điều kỳ cục và vô duyên nhất trên đời một người cha đã làm”.

Uy sụp xuống chân cô Hai. Tờ giấy nhũn ra vì nước mắt. Nắng soi đám lá của mái nhà sắp rệu để xiên xuống đất những hình tròn mờ ảo, lẩn khuất bóng người.

Cha làm dấu lần đầu Uy đi bằng vết chém xiên ăn sâu vào cột cái. Mỗi tháng là một vết chém trên cây so đũa trước nhà. Giờ cây cao nhòng không biết còn nhớ những cơn đau cũ hay không.

Dấu tay cha lần cần trúc nhẵn thín vì ngày nào cũng ra trước sông để câu cá chốt trứng. Còn lại trên bếp là mấy ơ cá chốt kho khô đã nổi mốc meo.

Nhiều thứ rành rành trước mắt nhưng đến giờ Uy mới thấy.

Uy cầm phảng phát tứ tung đám sậy. “Chỉ cần cha nói với con nửa câu yêu thương; chỉ cần cha nói ra nửa sự thật này. Tại sao cha không nói những lời này khi cha con mình sống cạnh nhau? Tại sao con không quay về sớm hơn? Tại sao con cứ trách cha mà không nghĩ điều gì khác?”.

Câu hỏi tại sao bay tứ tung lên trời.

Không biết chuyến này về rồi Uy có đi tìm núi nữa hay không khi yêu thương cứ nằm sâu thổn thức...

Truyện 1.199 chữ của ĐOÀN PHƯƠNG NAM
http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/Van-hoc/469792/Khong-co-nui.html

Thứ Tư, 21 tháng 12, 2011

Thứ Sáu, 16 tháng 12, 2011

Cà phê nhớ ...

Sớm mai thức giấc , nhớ lại ngày hôm qua là đúng năm năm ngày nó rời ngôi trường thân yêu của mình . Nhớ quá những ly cà phê bạn bè ban sáng " Cho ba ly đá  và một sữa đá nha " . Cả lũ vừa nhai  bánh mì vừa nhiều chuyện : chuyện trường , chuyện lớp , chuyện bạn bè .Ngày qua ngày , chủ quán cà phê nhớ luôn thói quen uống cà phê của từng đứa , bữa nào vắng thì nhắc ... Cô nhỏ ngày xưa từ chỗ chưa hề biết uống cà phê ...giờ đã thành ..ghiền . Thấy thương lắm khi nhỏ ấy nói : "Bắt đền chị và anh L, anh Th .. Giờ thì mấy người để em "cà phê một mình " ...Bây giờ mỗi đứa một phương ...!!!
Ui, sao lại thấy nhớ "tụi bây "đến rưng rưng thế này...!

Thứ Ba, 6 tháng 12, 2011

Ma và người


Rating:
Category:Other
Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư

(Gởi những ai sợ hãi bóng đêm)

Hồi tôi sống với ngoại, lúc sáu, bảy tuổi gì đó, tôi bắt đầu biết sợ... ma. Sợ vì tin rằng có ma trên đời. Để ý thì thấy, lần nào ngoại tôi vấp chân, bà cũng từ tốn nhìn quanh, giọng nửa trách móc, nửa tôn kính: “Mô Phật, ai mà giỡn kỳ, đẩy bà già này làm chi?”. Không ai trả lời, chỉ có gió rợn sau nhà. Đám giỗ, ngoại bày năm mâm cúng, lúc nâng ba cây nhang nghi ngút khói ngang trán, ngoại lâm râm vái có kinh có kệ có dò có dọc như thể người nào đó đang ngồi chình ình trước mặt. Tàn nhang cong queo, ngoại mừng húm nói bữa nay có ông bà về. Nhưng ngoài tôi ra, trước sân chỉ rụng xuống một vài lá vú sữa rập rờn. Tôi tin có những người nào đó tồn tại quanh mình, trong một thế giới vô hình, dù ngoại không hề dọa ma. Vì vậy, suốt những năm sống với ngoại trong khu vườn gần đồn Chẹt, tôi chẳng bao giờ lẻn ra vườn bởi ghê cái ao trước đây có ông lính cộng hòa say rượu té chết, một mình không dám ra sông vì ngoại kể hồi chiến tranh, sông trôi xơ xác những xác người. Cũng không leo trèo hái trái trên những cây me cổ thụ, loại cây mà ma khoái ở (thì nghe nói vậy). Nửa đêm thoi thóp nghe chim cú kêu bên hè (khốn khổ, vì vườn xưa, nhiều cây cao nên chim cú thích ở, đêm nào cũng kêu xa kêu gần). Quãng đó tôi sống tốt dễ sợ, đến nỗi không dám... ăn vụng vì nghĩ mình làm bất cứ chuyện xấu xa nào cũng có kẻ nhìn thấy, ớn muốn chết.

Ma đem lại cho tôi rất nhiều cảm xúc mãnh liệt (điều này hơi giống... tình yêu). Trong sợ hãi có một chút thích thú. Muốn quay đi nhưng cũng rất tò mò, hiếu kỳ. Sợ, nhưng thích xem phim kinh dị, tới đoạn rùng rợn lại che mặt. Người sợ ma nhất luôn có bộ sưu tập nhiều chuyện ma nhất. Và trí tưởng tượng được sử dụng hết cỡ. Những cây tre cọ vào nhau trong đêm giông, tiếng cú kêu, tay chuối khô vật vờ bay trong đêm, vài con bướm lớn màu xám lặng lẽ đậu im lìm trên vách, một góc nhà hơi tối và lạnh lẽo... đều là mối dây liên hệ với... ma. Ngay cả chạy trên đường, tiếng bước chân mình mà tưởng chân ma rượt, báo hại càng chạy càng thấy nó đuổi sát bên mình. Buộc phải sợ, thế giới đó quá bí hiểm, chưa ai được mon men ra biên giới giữa hai cõi hỏi thăm, người đi về cõi đó cũng không trở lại để... kể.

Phải sợ, vì người ngoài sáng, ma trong tối. Ma lượn lờ quanh mà mình chẳng thấy, đến lúc chợp mắt, ma lại hiện ra trong những giấc chiêm bao. Tôi, cũng như nhiều người chưa thấy ma bao giờ, nhưng nghe kể chuyện đã thấy ám ảnh, hãi hùng. Người đời thêu dệt hàng ngàn câu chuyện ma khác nhau, nhưng đối tượng chính thì giống hệt, thường là những người phụ nữ xinh đẹp mặc toàn đồ đen hay trắng (có lẽ thế giới đó không chuộng mốt, chưa nghe ma mặc áo chim cò, áo yếm hoặc váy ngắn), tóc đen dài, và khi muốn làm con người sợ hãi, ma khoe cái lưỡi dài, đỏ lòm. Ma hay vật vờ than khóc trên những cây cổ thụ, hay mời người ăn bánh (nhưng khi tỉnh ra thì thấy bánh là bùn). Rất nhiều truyện kể ma đứng bên đường quá giang xe những người đàn ông, rồi biến mất bằng nhiều cách, hoặc đi vào ngôi cổ miếu nào đó, hoặc lặng lẽ tan đi mặc cho anh nọ vẫn nói huyên thuyên đằng trước.

Những câu chuyện ma bắt đầu làm cho tôi thích thú, đơn giản vì tôi hết sợ. Tôi không tin tuyệt đối vào sự huyền bí, nếu có thì ma đâu sao không vặn cổ bọn người xấu đang nhởn nhơ giữa đời kia. Hiểu ra điều đó, tôi tiếc vì mất đi một lý do để mình sống... tử tế. Nghịch lý, là khi tôi tỉnh táo, thấu đáo được một điều gì đó thì đời bỗng buồn hơn.

Bỗng ngỡ ngàng thấy người đáng sợ hơn ma. Chẳng biết được ai là bạn, là thù, ai yêu mình, ai ghét mình, trong khi ma đã tách bạch ở một giới tuyến tối tăm khác. Nói tới ma, biết ngay là giặc. Còn người thì lẫn lộn trắng đen, khó nắm bắt. Ma muôn đời đơn điệu vài chiêu dọa người, người lại nghĩ trăm phương nghìn cách hại nhau. Vậy mới sợ.

Phát hiện ra điều này, tôi buồn suốt một khúc thời gian, ganh tị với kẻ sợ ma rón rén trông buồn cười mà hạnh phúc. Tháng Giêng rồi, tôi đi H. chơi. Nghe nói nhà trọ xây trên nền nghĩa địa cũ, cả đêm hai đứa con gái cùng phòng mở đèn sáng rực, nghe gió rít qua khe cửa sổ, trằn trọc chờ... ma. Báo hại tôi ngủ không được. Trăn trở nghe bụng cồn cào, tôi mò ra quầy bar, mua ly sữa nóng. Anh chàng trực quầy cao lớn đang ép nước trái cây. Lúc anh ngẩng lên, tôi giật mình trước nét mặt đẹp, rất nam tính nhưng lạnh tanh, thật ngầu. Lúc ấy tôi bị bội thực những nụ cười giao đãi nên thấy thích anh chàng này, đứng nấn ná nói một vài câu chuyện bâng quơ. Tôi kể mình vừa thấy ma. Anh cười. Tôi nói em thấy ma thiệt. Anh lại cười. Tôi nói bạn em cũng thấy ma, nó đang sợ phát khóc trong phòng. Mắt anh ta nhìn tôi có vẻ tần ngần, cuối cùng anh hỏi, con ma ra làm sao. Tôi ngập ngừng, ra bộ vẫn còn hãi hùng lắm, nói chị đó mặc đồ nâu đen, tóc dài, cài nơ đen. Anh ta im lặng, nhìn chăm chăm vào cái máy xay đang kêu tè tè. Anh bỗng ngẩng lên: “Em à, con nhỏ đó hiền lắm”.

Tôi đứng day ly sữa trong tay, cảm động muốn chết. Chẳng ai nói về ma, về nỗi sợ hãi thường trực trong lòng bằng cái giọng ấm áp, bao dung, bình thản, chân thành như vậy. Như thể anh đang nói về một đứa em nhỏ, một người bạn thân, một đồng loại...

Thật đơn giản, lâu nay người ta cứ nghĩ ai đó là kẻ thù trong khi họ cũng có thể làm bạn. Tôi lại tin có ma ở trên đời, nhưng không phải để sợ hãi...
( Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn 25 -5-2006)